Hỗ trợ trực tuyến

Thông điệp cho ngành tôm Việt Nam

Chuyển từ nhà cung cấp sang chủ sở hữu. Không cạnh tranh về giá; không chạy theo sản lượng, tập trung vào giá trị sản phẩm cao cấp, xây dựng thương hiệu quốc gia.

Ngày đăng: 09-05-2026

8 Lượt xem

Đó là những thông điệp chiến lược để “thắng” trong cuộc cạnh tranh giữa Việt nam và những “ông lớn” ngành tôm thế giới.
Ngành tôm là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Nhưng hiện nay, ngành tôm đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ Ecuador và Ấn Độ. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam không thể cạnh tranh bằng giá thành thấp hay sản lượng lớn, mà cần chuyển hướng sang chiến lược dựa trên giá trị, công nghệ và tích hợp hệ thống.
Cạnh tranh với những “ông lớn” ngành tôm thế giới
Tại Hội nghị Khoa học công nghệ thuỷ sản và kiểm ngư toàn quốc 2026 vừa qua, TS Nguyễn Duy Hòa, Phó Giám đốc kỹ thuật Tập đoàn Cargill đã phân tích vị thế cạnh tranh ngành tôm Việt Nam với một số quốc gia khác đang phát triển mạnh ngành hàng tôm. Đồng thời, đề xuất lộ trình phát triển ngắn, trung và dài hạn nhằm giúp ngành tôm Việt Nam chuyển dịch từ nhà cung cấp nguyên liệu sang nhà cung cấp sản phẩm giá trị cao bằng cách xây dựng thương hiệu.
Theo phân tích, những năm gần đây, ngoài Việt Nam, còn 2 quốc gia khác đã vươn lên mạnh mẽ trong ngành tôm hiện nay là Ecuador và Ấn Độ. Trong đó, Ecuador dẫn đầu về chi phí (cost leader) thấp. Ấn Độ vẫn đang duy trì vị trí dẫn đầu về quy mô (scale leader), dù từng chững lại, nhưng hiện đang phục hồi mạnh. Còn Việt Nam có quy mô nhỏ nhưng ứng dụng công nghệ thâm canh. Điều này đặt ra một câu hỏi chiến lược quan trọng: Việt Nam sẽ cạnh tranh bằng cách nào trong thập kỷ tới?
 
Theo TS Hòa, Việt Nam nuôi thâm canh với mật độ cao, từ 100 - 300 con/m2, năng suất từ 15 - 25 tấn/ha, Ấn Độ trung bình với 20 - 60 con/m2 (bán thâm canh), năng suất từ 6 - 10 tấn/ha. Ecuador có mật độ nuôi thấp nhất, từ 5 - 15 con/m2 (quảng canh), năng suất 4 - 8 tấn/ha.
Như vậy Việt Nam có năng suất cao nhất nhưng đi kèm rủi ro cũng cao do nuôi mật độ cao, dễ bị dịch bệnh. Ấn Độ có mức rủi ro trung bình. Ecuador là nơi có mức độ rủi ro thấp nhất.
Về quy mô sản xuất, Việt Nam nhỏ lẻ, ao nuôi chỉ từ 0,1 - 1ha, gây khó khăn trong tiêu chuẩn hóa. Ấn Độ trung bình từ 1 - 5ha/ao. Ecuador có quy mô lớn nhất, bình quân mỗi ao có diện tích từ 5 - 50ha.
Về chất lượng, tôm Việt Nam kích cỡ không đồng đều, tôm dễ mềm do stress. Tôm Ấn Độ, chất lượng không ổn định. Còn tôm Ecuador có chất lượng vượt trội nhờ hệ thống đồng bộ, thịt chắc, màu đẹp.
Về giống, trong khi Ecuador có hệ thống chọn giống khép kín (Closed-loop breeding system), thì Việt Nam phân mảnh. Còn Ấn Độ, dù giống có kiểm soát nhưng vẫn phụ thuộc.
“So sánh thực tế cạnh tranh thì Việt Nam không thể thắng Ecuador về chi phí, cũng không thể thắng Ấn Độ về quy mô. Do đó, ta không nên đi theo hướng giảm chi phí “cost curve”, mà phải đi bằng giá trị “value curve”, ông Hòa nói.
Định hướng chiến lược
Theo ông Hòa, những thách thức của ngành tôm Việt Nam là chi phí thức ăn cao (chiếm từ 50 - 60% chi phí sản xuất). Về vấn đề này, TS Hòa cho hay, hiện có thể dùng thức ăn cho thủy sản từ thực vật (đậu nành). Đó là đạm đậu nành đậm đặc (Soy Protein Concentrates), đậu nành lên men (Fermented Soy) và đạm bắp thuần khiết (Empyreal 75) hay đạm bắp lên men (MOTIV), có hàm lượng dinh dưỡng cao.
“Các sản phẩm thức ăn từ đậu nành đáp ứng được các tiêu chí, gồm chất lượng cao về dinh dưỡng, đặc biệt axit amin để đảm bảo thay thế bột cá vẫn giữ được hiệu quả của vật nuôi (tăng trọng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn…); Tính ổn định cao về chất lượng; Nguồn cung ổn định, không lo thiếu hụt”, ông Hòa cho biết
Ngoài yếu tố thức ăn có thể giải quyết, vẫn còn những rào cản khác trong cạnh tranh với Ấn Độ và Ecuador. Đó là ngành tôm Việt Nam chưa đồng bộ, mô hình nuôi nhỏ lẻ, mật độ nuôi cao, khó kiểm soát dịch bệnh, chất lượng, không có sự liên kết giữa giống; thức ăn; nuôi; chế biến, thị trường.
Từ những phân tích trên, TS Hòa cho rằng, để ngành tôm Việt Nam đủ sức cạnh tranh với các ông lớn trong ngành này, có 6 chiến lược, gồm: vấn đề di truyền giống (genetics): Tạo ra giống tôm sạch bệnh, kháng bệnh, tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn. Thông điệp của chiến lược đầu tiên là “Tỷ lệ sống quan trọng hơn năng suất”.
Chiến lược 2 mang thông điệp “Thức ăn cao cấp không phải là chi phí mà là công cụ tạo lợi nhuận”. Theo đó, cần tối ưu hóa FCR (Feed Conversion Ratio - Hệ số chuyển đổi thức ăn) xuống mức thấp nhất, để nâng lợi nhuận, giảm chi phí sản xuất. Dùng nguyên liệu nội địa nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu. Sử dụng thức ăn chức năng (functional feed). Đặc biệt quan trọng ở giai đoạn tôm giống và giai đoạn đầu nuôi thịt.
Chiến lược 3: Đẩy mạnh áp dụng công nghệ nuôi bằng IoT, AI. Trong đó bao gồm công nghệ Biofloc với mật độ tối ưu từ 80 - 120 con/m2 và diện tích ao, độ sâu ao đủ lớn và sâu giảm biến động môi trường, stress và gia tăng tỉ lệ sống cho tôm, giúp tăng trưởng nhanh; Công nghệ Eco-RAS Hệ thống tuần hoàn bền vững.
Chiến lược 4 với thông điệp “Lợi nhuận thực nằm ở chế biến và thương hiệu”. Theo đó, cần đầu tư về chuỗi giá trị gia tăng. Đa dạng sản phẩm từ tôm như tôm nấu chín; tôm bóc vỏ, sẵn cho người ăn (ready-to-eat). Truy xuất nguồn gốc đảm bảo cho thị trường xuất khẩu đạt chuẩn. Tạo thương hiệu tôm Việt Nam chất lượng cao “Vietnam premium shrimp”.
Chiến lược 5 là vấn đề thị trường. Ông Hòa cho rằng, mỗi thị trường phù hợp với một phân khúc sản phẩm. Ví dụ thị trường Mỹ và EU cần hàng chất lượng cao (Premium). Thị trường Nhật Bản cao cấp hơn (Ultra premium; chất lượng cao). Với thị trường Trung Quốc, volume lớn; hàng thường (nguyên vỏ, nguyên vỏ bỏ đầu); giá cạnh tranh. Còn thị trường Trung Đông và châu Á, có thể là hàng đông lạnh, linh hoạt giá.
Về chiến lược cuối cùng, về tích hợp, ông Hòa phân tích các yếu tố như di truyền, giống, thức ăn, mô hình nuôi, chế biến hay thị trường cho thấy, Ecuador tốt hơn Việt Nam. “Ví dụ về di truyền giống và thức ăn cho tôm, Việt Nam còn phân tán, mô hình nuôi nhỏ lẻ, chế biến không ổn định, thị trường chủ yếu là dạng OEM (Original Equipment Manufacturer), còn Ecuador có hệ thống di truyền giống tập trung, thức ăn tối ưu nội bộ, mô hình trại nuôi lớn, tập trung, chế biến liên kết trại nuôi, thị trường  tạo thương hiệu. Từ đó cho thấy, Ecuador thắng không phải giá rẻ mà vì hệ thống tích hợp”. Ông Hòa phân tích và cho rằng, ngành tôm Việt Nam muốn cạnh tranh và thắng Ecuador, Ấn Độ, thì phải xây dựng hệ sinh thái liên kết, kết nối nông hộ; tiêu chuẩn hóa sản xuất; dự báo sản lượng; nâng cao giá trị.
 
“Về lộ trình phát triển, trong ngắn hạn là tối ưu chi phí, cải thiện FCR. Trung hạn là đầu tư di truyền giống, áp dụng công nghệ. Còn dài hạn là xây dựng thương hiệu, mở rộng quy mô tích hợp. Không cạnh tranh bằng giá, không chạy theo sản lượng, mà tập trung nâng tầm giá trị, xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam”, TS Nguyễn Duy Hòa, Phó Giám đốc kỹ thuật Tập đoàn Cargill.
Nguồn: nongnghiepmoitruong
CÔNG TY TNHH AQUA MINA
– Địa chỉ: 685 Lê Đức Anh, Khu Phố 39, P. Bình Hưng Hòa, Tp HCM
– Điện thoại: 1800 6071 (Tổng đài miễn cước )
– Email: sales@aquamina.com.vn hoặc oversea@aquamina.com.vn
– Đại lý của Aqua Mina tại Nhật Bản: Công ty REX INDUSTRIES CO.,LTD
– Địa chỉ: 1-9-3 Hishiya-Higashi, Higashi-Osaka 578-0948 JAPAN
– Email: kimakubo@rexind.co.jp
– Điện thoại: +81-(0)72-961-9893
– Website: www.rexind.co.jp/e/

Hồ Tròn Nổi Khung Composite D14

Chúng tôi làm việc vì sự thành công của Quý Khách Hàng!!!

CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG

NHAN-VIEN-TU-VAN.jpg (17 KB)

1800 6071 (Miễn phí gọi tới)

TƯ VẤN THIẾT KẾ

Sidebar.jpg (99 KB)

FANPAGE

TUYỂN ĐẠI LÝ BĂNG KEO

bang keo flex tape chinh hang.jpg (384 KB)

QUY CHẾ SÀN GIAO DỊCH

QUY CHE 1.jpg (28 KB)

TIN MỚI NHẤT